Thứ Ba, 25 tháng 8, 2009

फोअल्थुय











































































































































Tết Chol Chnam Thmay của đồng bào Khmer Nam

một năm, đồng bào Khmer Nam bộ có khá nhiều lễ hội। Nhưng quan trọng nhất của họ vẫn là ba lễ hội, tuần tự như sau: Chol Chnam Thmay, Dolta và Ok Om Bok. Chol Chnam Thmay có nghĩa là “lễ chịu tuổi” hay “vào năm mới”, mà ta thường gọi là tết.
“Cũng như mọi dân tộc trồng lúa nước ở Đông Nam Á, người Khmer tồn tại nhiều lễ nghi nông nghiệp diễn ra theo chu kỳ gió mùa và chu kỳ canh tác. Người Khmer mừng tết vào giữa tháng “chết” (tức khoảng giữa tháng 4 dương lịch) ngày 13-14-15 gọi là Chol Chnam Thmay. Đây là thời điểm mùa khô kết thúc và mùa mưa sắp đến” (Toan Ánh, “Nếp cũ - Hội hè đình đám”, quyển thượng, tr.259, NXB Trẻ, 2005). Chol Chnam Thmay của đồng bào Khmer Nam bộ cũng giống như Tết Nguyên đán của đồng bào Kinh. Tết này có ý nghĩa rất quan trọng đối với người Khmer Nam bộ vì nó vừa là ngày mở đầu năm mới, mở đầu thời vụ mới, cũng là ngày hạnh phúc tươi vui nhất trong năm mới. Đây còn là dịp nam nữ thanh niên trong phum sóc quen biết, tìm hiểu nhau, có thể tiến tới cuộc hôn nhân tốt đẹp trong tương lai... Cũng như Tết cổ truyền của các dân tộc khác, Chol Chnam Thmay của đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ tuy có cùng ý nghĩa, nhưng lại được tổ chức với vài tập tục khác biệt theo bản sắc văn hóa của mình. Vì là một cộng đồng dân tộc theo Phật giáo Tiểu thừa, nên mọi sinh hoạt Tết Chol Chnam Thmay của đồng bào Khmer Nam bộ đều diễn ra tại chùa.

Với Chol Chnam Thmay, cũng như Dolta và Ok Om Bok, đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ thức hầu như suốt đêm trong chính điện hoặc trong sân chùa để nghe thuyết pháp, tụng kinh; để vui chơi bên nhau. Hàng quán bày các nơi trong khuôn viên chùa, là dịp để đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ giới thiệu với các bạn phương xa nền văn hóa ẩm thực độc đáo của họ. Ngoài bún nước lèo nức tiếng gần xa, còn có bánh ống được làm bằng khoai mì mài vắt ráo nước, gạo vo rút nước phơi ráo xay khô đâm nhuyễn, dừa rám nạo rồi bằm, tất cả trộn đường cát. Cho hỗn hợp này hấp chín trong hai (hoặc bốn) chiếc ống tre cách thủy trên miệng nồi đất. Bánh chín, tròn dài nổi bật trên nền lá chuối xanh tươi. Cắn nhẹ, cảm giác bánh xốp như bánh bò bông tan dần trên mặt lưỡi. Nhưng bánh dùng để cúng trong chùa của đồng bào dân tộc Khmer độc đáo hơn là bánh gừng mà họ gọi là Num-khơ-nhây. Bánh làm bằng nếp vo sạch để ráo cho vào cối đâm nhuyễn rồi sấy hoặc phơi khô. Trộn đều bột này với hột gà, bột nang mực, nước chanh tươi rồi nắn hình củ gừng. Chiên trong chảo dầu hoặc mỡ, bánh chín vớt ra lăn đều trên mâm đường cát trắng thắng sền sệt rồi đem phơi nắng là được. Bánh ăn giòn mềm, càng nhai càng nghe vị ngọt béo bùi lan trên mặt lưỡi...

Ngoài 2 loại bánh vừa nêu, để cúng chùa, người ta chuẩn bị các loại bánh mứt khác cùng đồ ăn thức uống các loại khá chu đáo, nhưng nhất thiết phải có 5 loại bánh: Nùm chruốt (bánh tét nhân mỡ), Nùm chết (bánh dừa nhân chuối), Nùm tiên (bánh ít), Nùm niềng nóc và Nùm bóc cháp (bánh bột nhân dừa). Cùng với hương đăng hoa quả, họ mang tất cả vào chùa cúng bái với mong ước mưa thuận gió hòa, gia đình an khang hạnh phúc, con cháu học hành tấn tới nên người. Bên cạnh đó người ta còn làm công quả ở chùa song song với việc tham dự các cuộc vui diễn ra tại đây. Các cuộc vui diễn ra tại sân chùa gồm: đá cầu, ném banh, kéo co, đấu khăn, rồng rắn, bịt mắt bắt dê... Nhưng phổ biến nhất là trò ném Chô chhuôn giữa hai đội nam và nữ. Đội này ném cái khăn cuộn tròn sang đội kia, vừa ném vừa hát tạo ra không khí sôi nổi, hào hứng. Ở một số tỉnh còn tổ chức hát Ta rốt. Đoàn hát đi từ nhà này sang nhà khác, phum sóc này sang phum sóc khác. Trong đoàn có một người đóng vai thợ săn, hai người giả làm hươu. Mỗi người còn lại trong đoàn cầm một chiếc gậy đầu buộc tua vải nhiều màu, vừa đi vừa gõ nhịp xuống đất vừa hát, tới đâu cũng được bà con thưởng tiền bạc hoặc quà bánh. Đáng tiếc là trò vui đậm chất văn hóa dân gian này của họ ngày nay không còn phổ biến như xưa!

Chol Chnam Thmay diễn ra trong 3 ngày: ngày đầu tiên gọi là Chol Sangkran Thmay, ngày thứ hai gọi là Wonbơt và ngày cuối cùng gọi là Lơn Săk. Trong đêm giao thừa, mọi nhà đốt đèn, thắp hương, làm lễ đưa Têvôđa năm cũ và rước Têvôđa năm mới. Theo quan niệm của người Khmer Nam bộ, họ tin rằng, Têvôđa là một vị tiên được trời sai xuống trần gian chăm lo cho dân chúng trong một năm. Hết năm đó, trời lại sai một vị khác xuống làm thay công việc chăm lo cho dân. Hiện nay, vẫn còn một số gia đình đưa con trai vào chùa kính Phật, làm lễ quy y đúng vào đêm giao thừa. Theo quan niệm của họ, đây là giờ lành tháng tốt, là giờ khắc tốt nhất trong năm, nên việc xuất gia tu hành gặp nhiều điều tốt đẹp cho bản thân người con mà còn cho cả gia đình.

Sáng sớm ngày thứ nhất, Chol Sangkran Thmay, người ta chọn một giờ tốt (thường là lúc 7 giờ sáng, 5 giờ chiều hay 12 giờ khuya, tùy theo năm) để tắm gội sạch sẽ, mặc quần áo đẹp, mang lễ vật, nhang đèn vào chùa làm lễ rước lịch Maha Sangkra. Một vị Acha điều khiển mọi người đứng xếp hàng rồi đi quanh chính điện, vừa đi vừa tụng kinh mừng năm mới. Ban đêm, những người lớn tuổi tụ họp trong giảng đường nghe sư thuyết pháp, còn thanh niên nam nữ thì tham gia các trò chơi dân gian, hát dù-kê, rô-băm, múa lăm-thôn... tại sân chùa.

Sáng sớm ngày thứ hai, Wonbơt, người ta dâng cơm cúng dường các nhà sư, gọi là Ween chong ham. Theo tục lệ nhà chùa, vào ngày sóc, vọng, ngày tết, lễ... các tín đồ đi chùa lạy Phật và góp phần nuôi sư sãi bằng cách mang cơm và thức ăn mời các nhà sư. Trước khi thọ bát, các sư tụng kinh cầu phúc cho những người đã đem thức ăn cúng dường, đồng thời làm động tác ban thức ăn cho những oan hồn uổng tử. Buổi chiều, tiến hành lễ đắp núi cát, gọi là Puôn phnum khsach. Đây là một tập tục lưu truyền theo sự tích về một người làm nghề săn bắn từ lúc trẻ đến già đã giết rất nhiều muông thú. Về già, ông luôn ám ảnh bởi những loài thú mà ông đã săn bắn, chúng lúc nào cũng đòi mạng ông. Nhưng nhờ ông được sư sãi hướng dẫn cách đắp núi cát để tích phước. Ông bảo các loài chim muông nếu muốn đòi nợ ông thì hãy đem đi hết những hạt cát mà ông đã đắp. Nhưng các loài muông thú bất lực, đành kéo nhau đi, từ đó ông thợ săn già cố gắng tích đức cho đến một ngày ông về với cõi Phật.

Để đắp núi cát, người ta dùng cát sạch đổ thành đống bên ngoài hành lang trước sân chùa. Theo sự hướng dẫn của các vị Acha, người ta lấy cát đắp 9 ngọn núi nhỏ gồm 8 ngọn ở 8 hướng và 1 ngọn ở chính giữa. Ngọn chính giữa tượng trưng cho trung tâm trái đất, còn lại tượng trưng cho bốn phương, tám hướng của vũ trụ. Đắp núi xong, người ta dùng tre (hoặc vật liệu khác) rào quanh 9 ngọn núi này. Tiếp theo là đến phần lễ quy y cho núi, đến ngày hôm sau thì làm lễ xuất thể. Tất cả các nghi lễ này đến ngày nay được gìn giữ gọi là Anisong Puôn Phnom khsach nghĩa là phúc duyên đắp núi cát. Tục đắp núi cát có ý nghĩa ngăn trở ma quỷ và những điều xấu, đồng thời nhắc nhở mọi người nên tích phúc để ngày một cao vời, lớn lao như núi và lan dần khắp bốn phương, tám hướng.

Ngày thứ ba, Lơn săk, tiến hành lễ tắm Phật sau khi dâng cơm sáng và trưa cho các vị sư. Người ta dùng nước sạch thả vào đó những bông hoa có mùi thơm, rồi dùng những nhánh hoa nhúng vào vẩy lên tượng Phật, sau đó tắm cho các vị sư cao niên, các ngôi tháp đựng hài cốt các nhà sư đã viên tịch, các nghĩa trang... Đây là một nghi lễ rất quan trọng với đồng bào Khmer Nam bộ vì họ tin rằng sẽ được Phật tha thứ cho những lỗi lầm thiếu sót trong năm cũ, gọi là lễ Kha ma tôs, giống lễ sám hối của Phật giáo Đại thừa; ban nhiều sức khỏe, làm ăn trúng mùa, ý nguyện được thành, xóm làng yên ổn, tai qua nạn khỏi... trong năm mới.

Đặc biệt, đồng bào Khmer ở Bạc Liêu cũng có lễ Thanh minh, gọi là Băng skôil. Trước Chol Chnam Thmay, bà con dọn dẹp, sơn phết tháp thờ hài cốt ông bà, cha mẹ mình cho gọn gàng, đẹp đẽ. Sau đó, nhờ nhà sư làm lễ cầu cho linh hồn ông bà tổ tiên mình được siêu sanh miền Tịnh độ. Đây cũng là dịp họ nhờ các sư tụng kinh siêu thoát cho những tháp mộ không người thân chăm sóc. Lễ viếng mộ kết thúc, họ trở về nhà tắm tượng Phật thờ trong gia đình. Tiếp đó, con cháu đem bánh mứt trà rượu mời ông bà, cha mẹ dùng cùng những lời chúc mừng năm mới tràn đầy sức khỏe, gặp nhiều may mắn... Nhiều chục năm trước, đây còn là dịp để họ tổ chức lễ tát nước vào người lớn tuổi lấy hên - giống như lễ Song Kra ở Thái Lan. Nhưng tập tục này đã chấm dứt từ lâu, thay vào đó là dùng nước sạch ngâm bông có mùi thơm thấm vào quần áo, đồ dùng của ông bà, cha mẹ như một lời cầu chúc may mắn đầu năm.

Chol Chnam Thmay là ngày Tết cổ truyền của đồng bào dân tộc Khmer Nam bộ, là nét văn hóa đặc sắc bên cạnh nét văn hóa đặc sắc khác của các dân tộc anh em ở nước ta, làm giàu thêm bản sắc văn hóa của dân tộc.



រុក្ខជាតិល្អស្រស់លំអរព្រឹកព្រៃ​​​​​​​សុរិយាល្ងាចថ្ងៃលំអរផ្ទៃមេឃ



Người Khmer



Người Khmer là dân tộc chiếm 90 % dân số tại Campuchia. Dân tộc này nằm trong nhóm các dân tộc dùng ngôn ngữ Mon-Khmer sống trên khắp Đông Nam Á. Ngôn ngữ của người Khmer là tiếng Khmer. Đa số người Khmer là tín đồ Phật giáo Khmer - một kiểu Phật giáo hòa trộn nhiều thành phần của Ấn Độ giáo, thuyết vật linh (tục thờ cúng thần sông núi, cây cỏ...), và tục thờ cúng tổ tiên[4]. Nhiều người Khmer định cư ở các vùng lân cận tại Thái Lan (Khmer Lơ), và đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam (Khmer Krom). Người Khmer thường có bề ngoài điển hình của người Đông Nam Á, trông gần giống người Tháingười Lào. Tuy nhiên, người Khmer không thuần chủng, bề ngoài có nhiều nét khác nhau, đó là do kết quả của nhiều thế kỉ pha trộn với người Ấn Độ, người Mã Laingười Trung Quốc.
Tổng dân số


15 – 25 triệu (ước tính năm 2006)


Khu vực đông người sinh sống Campuchia 14,2 triệu[1]
Thái Lan1,4 trieu Việt Nam[2]1,06 triệu Hoa Kỳ[3]241.550 Pháp50.000
Canada25.००० Úc20.००० New Zealand5।0 Lào4.०००
Bỉ3.००० Malaysia 11.381


khmer song tai cac nuoc tren the gioi


Ngôn ngữ Khmer, Việt, Khmer Surin, Thái







PHẬT GIÁO KHMER
Tín ngưỡng cư dân Khmer Nam Bộ
Cư dân Khmer trong vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như vùng Đồng Nai với người Khmer tại Kampuchia là cùng chung chủng tộc, sống trong hai quốc gia khác nhau; thì trước kia đã có môt thời gian khá dài chung sống trong cộng đồng Vương quốc Phù Nam; sau đó đến thế kỷ thứ sáu thì hợp lại trong cộng đồng Chân Lạp, và kéo dài cho đến thế kỷ thứ XVIII. Trên một bình diện khác, nền văn hoá truyền thống Khmer một khi đã chịu những ảnh hưởng văn hoá Java, Malaysia, Thái Lan, Môn và những yếu tố gốc Ấn Độ, đã hình thành từ lâu, trước khi những diễn biến lịch sử cách đây mấy thế kỷ. Từ đó phân chia ra làm hai khối khác nhau: Khối Khmer đồng bằng sông Cửu Long và khối Khmer Kampuchia. Mỗi khối do môi trường chính trị và văn hoá khác nhau cho nên cũng theo một hướng đi riêng biệt. vào thập niên 30 của thế kỷ XX, Liên bang Đông Dương được thành lập trong thời đô hộ Pháp, họ mối có cơ hội giao lưu với nhau, nhưng chỉ giao lưu trên phương diện hình thức mà thôi.
Phật Giáo Tiểu Thừa trong quá khứ và hiện nay là tôn giáo chính, chi phối những sinh hoạt tinh thần của người Khmer. Tuy nhiên, trước khi đoạ Phật du nhập trong đất nước nầy, đã tồn tại một hệ thống tín ngưỡng phản ánh nền văn hoá bản điạ. Ngày nay, các tín ngưỡng dân gian đó chỉ còn lưu lại chút ít tàn dư hay pha trộn với những tập tục tín ngưỡng, phong tục khác. Vấn đề tô tem giáo cũng được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử Khmer đề cập đến. Những khai quật cho biết: do điều kiện sinh hoạt của tộc người Khmer từ trước, còn phụ thuộc vào thiên nhiên là cư dân ống trên những vùng đất chinh phục từ đầm lầy, cho nên người Khmer đã sớm xem loại bò sát - tiêu biểu là rồng, hay biến thể của rồng - là tô tem của tộc mình.
Người Khmer thường truyền tụng đến câu chuyện kết hôn giữa Preah Tgôn và Néăng Neak từ xa xưa, xem là điển hình của phong tục, tín ngưỡng, tập quán. Những nghi thức trong đám cưới cổ truyền của Khmer, như tục nhuộm răng, cắt quy đầu... đều in đậm dấu vết về Tô tem giáo của họ. Cho đến nay người Khmer vẫn còn giữa lại tinh thần tín ngưỡng vật tổ. Nhiều ảnh hưởng của Bà La Môn giáo sau đậm trong địa hạt nầy; chẳng hạn như rấn thần naga được lưu truyền cho đến nay trong tín ngưỡng và văn hoá. rắn thần Naga trong truyền thuyết là "tổ tiên" của người Khmer. Những lễ tục, diễn xướng liên quan đến rắn thần được thể hiện trong nhiều hội lễ nhất là trong lễ cuất gia của tuổi thành niên Khmer. Rắn thần lại còn được xem là niềm tin và nguồn may mắn, được thể hiện trên điêu khắc chùa chiền, trên các phù điêu đền tháp, trên những nông cụ. Chim Krut cũng là một biểu tượng khác về vật tổ. Thành thử trong những hình thái sinh hoạt bình thường, không được dùng rắn Naga và chim Krut môt cách bữa bãi.
Một số chùa còn thờ thêm thần Arak. Đối với người Khmer, thì Arak có nghĩa là những loài ma quỷ với ý nghĩa khác. Ngưởi Khmer quan niệm: Arak là thần tổ của dòng họ 7 đời (?), đã biến thành ma quỷ thiêng liêng, nhưng lại có khả năng bảo vệ cho cuộc sống cá nhân và gia đình họ. Arak thường trừ khử hết những loại ma ác độc. Arak là môt nhân thần phái nữ đã chết, có những tên họ cụ thể, có huyền thoại, đồng thời mỗi vị lại có những nghi thức cúng lễ khác nhau, được ghi trong Thánh Lễ. Để thông đạt với Arak, phải dùng đến đồng bóng. người lên đồng gọilà Rup Arak, tức là truyền thông với thần linh. Nhiều đàn bà trởthàng các "Rup Arak" chuyên nghiệp. Họ lên đồng để hiểu căn bệnhcủa kẻ yếu đau, hay để thoát những tai ương xẩy ra bất thường. Ảnh hưởng tín ngưỡng Neak Ta thời cổ lưu lại không nhỏ. Theo nguyên nghĩa thì Neak là con người nói chung; Tà là người đàn ông đứng tuổi. Hai chữ hội lại thành ý niệm về những vị thần linh. Neak Tà được biểu hiện ra Neak Tà Meha Sros là vị thần cầmđầu trong các Phum Sóc, Neak Tà Watt là vị thần của chùa chiền đền miếu, Neak Tà Ra Chay là thần của ao hồ, ngả ba sông, Neak Tà Sâm Rông là thần của cây trôm, Neak Tà Đom Chreay là thần cây đa,cây đề. Qua những hình tượng trên đây cho thấy người Khmer thường có xu hướng thờ Bách Vật Giáo từ thời nguyên thuỷ còn lưu lại Neak Tà là thần bảo hộ. Những ngôi chùa Khmer đều có dựng lên thần bảo hộ. Người Khmer có tục lệ thờ cúng Arak và thờ cúng Neak Tà, hình thức của vị thần bảo hộ. Khi thờ cúng, đồng bóng là nghi lễ không thể thiếu. Arăk có mặt bảo vệ trên nhiều phương diện: bảo hộ gia đình, bảo hộ đất đai, bảo hộ làng mạc, ruộng nương. Neak Tà là vị thần bảo hộ cho thôn xóm tương tự như Thành Hoàng. Mỗi năm đều tổ chức lễ cúng vị Neak Tà rất trang trọng. Người Khmer phân chia ra bốn loại Neak Tà khác nhau: Loại Neak Tà có tên gọi những vật trong thiên nhiên, tên thựcvật hay tên của một đặc thù địa lý - Loại Neak Tà mang tên người - Loại Neak Tà mang tên các vị thần Bà la Môn - Loại Neak Tà tại chùa chiền.
Thành thử trong tín ngưỡng "Neak Tà" của người Khmer có đầy đủ các quan hệ tín ngưỡng đa dạng, từ tín ngưỡng vạn vật hữu linh cho đến tục thờ cúng tổ tiên, thờ cúng các thần trong đạo Bà La Môn và chư Phật trong Phật Giáo. Ngưòi bình dân Khmer hiện nay vẫn còn sùng bái những vị thần trong Bà La Môn: Brahma, Vichnu, Siva, Indra, được đặt dưới những danh xưng: Prek Norey, Prek Proum, Prek Em, Prek Puon Nuk... những di chỉ khai quật tại Óc Eo và tại Đồng Tháp có nhiều bức tượng của những vị thần nầy. Hiện nay, những tàn dư của Bà La Môn Giáo chỉ tồn tại trong những nghi lễ đồng bóng.
Trong việc phát triển Phật Giáo ở miền Nam, không thể không đề cập đến Phật Giáo Nam Tông từ đất Cao Miên truyền bá sang theo con đường bộ. Như vậy, từ thế kỷ thứ XVII trở đi, Phật Giáo đã theo nhiều hướng tiến đến vùng đất nầy. Tại đây, những hệ phái chính gồm có: Bắc Tông, Nam Tông và Phật Giáo Khất Sĩ. Địa bàn phát triển của miền Nam Việt Nam được phân chia ra làm bakhu vực mang những đặc tính sinh hoạt khác nhau: khu vực miền Đông Nam Phần, vùng Sài Gòn Gia Định và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Vùng đất miền Nam vốn là nơi cư trú và sinh hoạt của nhiều cư dân khác nhau: Người Việt, Người Hoa, người Khmer, người Chăm - Pa... Với một vị trí đặc biệt, qua những biến chuyển lịch sử, vùng đất miền Nam đã trở thành nơi xẩy ra những cuộc giao lưu văn hoá của nhiều cộng đồng cư dân. Thành thử, trong phạm vi tôn giáo – tín ngưỡng cũng có những sắc thái đặc biệt. Những cuộc khai quật di chỉ văn hoá miền Nam trong mấy chục năm gần đây, khiến cho những nhà nghiên cứu muốn phác thảo lại lịch sử thành lập cũng như sinh hoạt cư dân thời cổ:
Những di chỉ được khai quật tại những vùng Cầu Sắt (cách nay khoảng 5,000 năm) vùng Núi Gốm vào thời đại đồ đồng (2,000 năm trước Công nguyên) vùng Dốc Chùa của nền văn hoá đồng thau (3,145cách ngày nay). Con người trong những giai đoạn nầy phải tập trung sống trong những vùng đất cao. Những khu mộ cổ, những ditích cư trú cho thấy con người thời kỳ nầy phải vất vả lắm mớithích nghi với thiên nhiên. Họ cố vươn xuống sinh họat trong vùngđồng bằng, để ổn định cuộc sống hơn. Những thế kỷ đầu Công Nguyên, sự ra đời của nền văn hoá Óc Eo là tiến bộ lớn. Thế là từ lúc nầy choi đến thế kỷ thứ VIII, đã đánh dấu được một bước tiến dài trong cuộc chinh phục đồng bằng sông Cửu Long. Đến đầu thế kỷ VIII, văn hoá Óc Eo bắt đầu tàn lụi. Chân lạp thay thế vị trí Phù Nam. Vào thế kỷ XIII, trong thời đại Angkor huy hoàng, khuôn mặt mới của đồng bằng sông Cửu Long đã "những cửa rộng của con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm... tạo thành nhiều chỗ trú ngụ xum xuê" (trích Chân Lạp Phong Thổ Ký - Châu Đạt Quan). Năm Giáp Tý 484 khi vua Kaundinya Jayavarman sai thiền sư Nagasena sang Trung Quốc, đạo Phật đã dựng cơ sổ tại vùng đất Phù Nam. Năm 539: dưới triều vua Rudravarman, triều đình liên tiếp cử nhiều phái đoàn sứ thần sang Trung Hoa, tiếp nhận nhiều Phật tích. Dưới triều đại Kaundinya và Rudravarman, Phù Nam đã xây chùa, tạc tượng rất nhiều. Những cuộc khai quật cho thấy tại làng Phong Mỹ (Sadec) tượng đức Thích Ca đứng bằng gỗ mù u. Tài liệu được đoán định vào thế kỷ IV. Năm 1943 phát hiện tại Cái Tàu Hạ (Mỹ Tho) tượng Phật đứng bằng gỗ sao. Tài liệu được đoán định có niên đại thế kỷ II. Năm 1944 phát hiện tại Đá Nổi (Rạch Giá) tượng Phật đứng, không đầu. Tài liệu được đoán định thuộc thế kỷ V. Năm 1945: phát hiện tại làng Bình Hoà (Vàm Cỏ) tượng Phật bằng gỗ sao. Tài liệu được đoán định thuộc thế kỷ VI.Di vật Hội Sơn và Phụng Sơn (Sài Gòn): tại nền của ngôi chùa cổ nầy, tìm thấy những tượng Phật bằng đồng. Di vật của vùng đất Thủy Chân Lạp. Ngoài ra, có nhiều di vật Phật Giáo cổ xưa phát hiện được qua các lần khai quật khảo cổ học tại Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang, Long An, Tây Ninh. Những nhà nghiên cứu xác định: trước khi có những lưu dân từ vùng Thuận Quảng vào miền Nam Việt Nam, thì tại đây, đạo Phật, Bắc Tông lẫn Nam Tông đã bành trướng.
Tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong ý thức hệ xã hội của người Khmer. Theo thống kê của Phật Giáo Việt Nam thì trong toàn miền Nam có 419 ngôi chùa Khmer, với khoảng 11,000 sư. Ngôi chùa người Khmer trở thành trung tâm sinh họat tín ngưỡng của cộng đồng nầy.Cộng đồng của tộc người Khmer theo Phật Giáo hệ phái Nam Tông, từ trước đã phân chia ra làm ba giáo phái chính. Những giáo phái nầyđã ảnh hưởng cơ cấu tổ chức của Phật Giáo ở Kampuchia, gồm: giáo phái Mohanikay, giáo phái Thommayutt và giáo phái Theravada.
Theo tài liệu trong "Người Việt gốc Miên" (1969) thì: Miền Nam Việt Nam có 482 chùa theo phái Mohanikay, 18 chùa theo phái Thommayutt; giáo phái Theravada do Sơn Thái Nguyên thành lập năm 1957. Từ đó toàn thể sư sãi Khmer đều thuộc giáo phái nầy. Tuy nhiên, bộ Nội Vụ VNCH trước đây vẫn chưa chấp thuân giáo phái nầy. Năm 1964, khi Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Viện Hoá Đạo chỉ nhận giáo phái Theravada là đại diện cho giới sư sải người Việt gốc Miên tại Trung ương. Những chùa chiền người Khmer ở các tỉnh vẫn giữ nguyên giáo phái chính của mình.
Về hệ thống tổ chức cơ sở của Phật Giáo Khmer như sau: Giáo hội trung ương nắm toàn quyền về tổ chức và hành chánh. Giáo hội cấp tỉnh có Hội đồng kỹ luật sư sãi (Salakon), do vị Mekhon ứng đầu. Ở giáo hội cấp huyện có Anukhon và khu vực xã thì có Upachhlea. Từng chùa thì có Sãi Cả trụ trì; dưới Sãi cả có hai Sãi phó và một vị Achar chuyên dạy giáo lý. Những tu sĩ trong chùa được phân chia ra làm 2 bậc: đại đức và hoà thượng. Những tu sĩ đã thọ 227 giới được gọi chung là Tỳ Kheo (Bikkhu). Dưới cùng là lớp Sa di. (Trần Hồng Liên - 1996)
Kiến trúc chùa Khmer
Nhìn chung, mỗi ngôi chùa người Khmer trong vùng đồng bằng sôngCửu Long đều có một giá trị cao về giá trị mỹ thuật Phật Giáo. Một ngôi chùa Khmer là sự tổng hợp hài hòa về những yếu tố tạo hình, tạo dáng, điêu khắc, kiến trúc, hội họa. Môt ngôi chùa Khmer thường được kiến lập trên một khu đất khá rộng rãi trong mỗi địa phương. Có nhiều khu vực chục rộng đến hàng chục mẫu tây. Với cảnh quan đó, chung quanh một ngôi chùa thường trồng nhiều loại cây to như thốt nốt, dầu, sao, những cây đặc sản miền Nam. Mỗi ngôi chùa Khmer thường bao gồm nhiều khu vực kiến trúc như: khu chánh điện, sala, nhà tăng, nhà tu thiền định, nhà thiêu hương và những tháp thờ. Trước chùa thường là cổng (tam quan) trang trí hoa văn theo kiểu kiến trúc đền tháp Kampuchia. Vì là nơi cúng bái, hành lễ và cầu đảo, cho nên chánh điện giữa vị trí trung tâm của ngôi chùa. Những nền chùa Khmer thường được xây cất hơn mặt đất thường là một mét; phần để gia tăng vẻ tôn nghiêm; phần để tránh mùa lũ lụt.
Chánh điện chùa Khléang tại thị xã Sóc Trăng (1533) có ba bậc: mỗi bậc được bao quanh bằng một vòng rào xây bằng gạch. Những hàng rào đều theo đúng các hướng đông, tây, nam, bắc; mỗi hướng đều có cửa ra vào, trang trí mỹ thuật. Bên cạnh cổng vào là những ngôi tháp nhỏ, mỗi loại điêu khắc và kiến trúc theo mỗi thể điệu khác nhau. Cũng như những ngôi chùa Khmer khác, chùa Khléang có sân rất rộng, thường dùng để tổ chức những ngày lễ lớn thường diễn ra trong mỗi tháng. Khu chánh điện nằm vào trung tâm của toàn bộ quần thể nầy. Nền nhà được cất cao hẳn lên, và phân chia thành ba cấp bậc có những bố cục hoàn toàn khác nhau. Khu vực nầy được phân ra thành bốn phần, được quay hẳn về bốn hướng ra vào khác nhau. Mỗi hướng giành riêng cho mỗi hạng người khác nhau vào chùa, từ vị trụ trì đến chư tăng, thiện nam tín nữ và những người phục vụ trong chùa.
Cũng nhờ kỹ thuật bố trí khá hoàn chỉnh cho nên từ ngoài nhìn vào sẽ thấy ngôi chánh điện cao hẳn lên; điều nầy có thể phân biệt được với chùa chiền cổ truyền Việt Nam. Khung mái chùa uốn cao hẳn lên và được làm bằng loại gỗ quý, được đưa từ nhiều vùng khác đến. Mái chùa được phân ra làm ba phần bọc quanh nhau và những góc cạnh đều được trang trí và điêu khắc rất công phu. Những nhánh cao vút lên ở những góc mái, mang hình tượng Vichnou cổ truyền. Chung quanh chùa có nhiều cột cao san sát nhau tạo ra một hình tượng vững chải và kỳ bí hẳn. Ba lớp la thành bọc quanh chiến phần lớn sân chùa, khiến cho du khách tưởng tượng đến những hạn chế từng vùng riêng biệt, mà nghi thức người Khmer thường đưa ra cho mọi tín đồ đến hành lễ.
Đặc biệt nhất là những hình tượng Krud, tức là hình người đầu chim, một biểu trưng về "vật nhân nhất thể". Ảnh hưởng Corinthien và Dorothien của Hy Lạp thể hiện rõ nét nhất trong những mô hình nầy. Trong điện thờ và nhà Tổ có nhiêu bao lam; những bao lam nầy vươn lên cao vút lên tận mái nhà. Tất cả những chi tiết nầy đều được chạm trổ, điêu khắc lẫn hội họa; màu sắc rực rỡ và được chiếu sáng rực hẳn lên (Nguyễn Quảng Tuân - 1990)
Mái chùa Khmer là phần kiến trúc và trang trí nổi tiếng trong toàn bộ, cấu trúc khá phức ạp và độc đáo. Khung mái thường dùng toàn loại gỗ quý, lợp ngói. Có một số chùa lớn toàn thể bộ mái được đúc liền bằn xi măng và cẩn gạch nhiều màu (như ngôi chùa Srâ Lâung, ở xã Đại Tâm, Sóc Trăng).
Thông thường trong kiến trúc bộ mái chùa Khmer gồm có ba cấp; mỗi cấp mái lại chia làm ba nếp. Nếp cẩn ở giữa thường lớn nhất và trang trí tinh vi nhất; còn hai nếp phụ ở hai bên cân đối, hài hoà. Hai mái trên cùng lợp lại hợp thành góc 60 độ (Theo Lê Đắt Thắng- 1988). Hai đầu trống ở hai đầu mái được đóng bít bằng một mảnh gỗ hình tam giác, được gọi là "Hô Cheang". Phần nầy thường được khắc họa và trang trí rất đẹp. Trên đầu hai góc mái trên cùng thường có một khúc đuôi rắn dài và con vút; nhờ vậy, trông đầu mái có cảm giác nhẹ nhàng hẳn lên.
Trên hai mái trên cùng nầy, ở phần giữa, thường xuất hiện một ngọn tháp cao vút (có chùa đến ba ngọn tháp như chùa "Tắc Gồng" (Brasat Kông tại xã Tham Đôn, huyện Mỹ Xuyên). Nắp tháp to lớn, có hình một quả chuông úp xuống, gồm có nhiều tầng chồng lên nhau. Phía trên, có đặt một đầu tượng bốn mặt là vị thần "Maha Prum", như tại chùa Bãi Xài (Mỹ Xuyên); trên cùng lại có đặt thêm một cột thu lôi cao vút. Trên đầu góc của hai tầng mái dưới, thường thấy xuất hiện rất nhiều đầu con rồng (theo họa tiết Khmer); thân rồng là một bờ dãy, giương lên nhiều vi lưng. Những tài liệu của Malleret cho biết: trong những thế kỷ trước, chùa tháp Khmer không có tháp nóc; kiểu tháp nóc nầy do ảnh hưởng của nền kiến trúc Phật Giáo Thái Lan hay Miến Điện sang. Trong điện thờ và nhà Tổ có nhiều bao lam; những bao lam nầy vươn lên cao vút lêntận mái nhà.
Tất cả những chi tiết nầy đều được chạm trổ, điêu khắc lẫn hội họa; màu sắc rực rỡ và được chiếu sáng rực hẳn lên. Trên bàn thờ chính có nhiều tượng Phật trong những tư thế và giai đoạn khác nhau trong đời của Ngài, từ khi đản sinh cho đến hồi nhập diệt: ít nhất là 20 thể hình như thế. Sau mỗi pho tượng có đều ghi chú xuất xứ của pho tượng và người mang tượng đến cúng chùa.
Trong chùa không có những tượng Kim cương, tuy nhiên, ở những cửa ra vào thì được chạm nổi những hình Theanin và Reahu trông rất dữ dằn. Thậm chí những hình Tiên Nữ trên cửa hay trên cột trông cũng rất hung tàn, trong tư thế chiến đấu. Chánh điện của chùa Khmer chiếm hầu toàn phần lớn và vị trí quan trọng từ ngoài vào. Đây là gian phòng dùng trong việc hành lễ, thờ phụng, cầu đảo, truyền đạo, hành đạo. Thông thường, cách bài trí chánh điện đơn giản, nhưng không kém phần trang nghiêm. Trên bệ chính cao nhất, có nhiều tầng, đặt pho tượng Phật. Những tượng Phật của chùa Khmer thường quay về hướng đông. Giải thích về chọn phương hướng nầy, kinh điển Khmer cho rằng: Phật Tổ ở phương tây thì bao giờ cũng quay về hướng đông, để phổ độ chúng sanh. Phần bệ tượng chính thường khắc họa, trang trí một toà sen rộng lớn, chia nhiều bậc và mỗi bậc đều có nhiều hoa văn trang trí mỹ thuật. Bệ tượng thường là một toà sen và có nhiều bậc, được trang trí tỉ mỉ. Trên bệ gồm một tượng Phật chính, thiết trí ở chính giữa; nhiều tượng nhỏ chung quanh.
Khác với những ngôi chùa Việt Nam và chùa Trung Hoa, những loại chùa Khmer chỉ thờ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, không thờ các vị Phật, Bồ tát khác như đức Quán Thế Âm Bồ tát, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, hay các vị Kim Cương, La Hán và các Bồ tát khác. Toàn thể tượng và bệ tượng thường đặt phía sau một cái khuôn lớn, có chạm khắc những mẫu hoa văn, hình kỷ hà rất tinh vi. Nổi bật nhất hiện nay là ngôi chùa Srâ Lâung, còn bảo lưu nhiều khung bằng gỗ, có những hình chạm trỗ rất đẹp.
Những kỹ thuật chạm khắc gỗ tại chùa nầy được thể hiện qua những khung hình rất sắc sảo. Trong bố cục, phần chánh điện thường được xây một nơi riêng biệt, cách xa hẳn các dãy sala và nhà tăng, nhà hậu. Những kiến trúc chùa chiền Khmer, thì sala là ngôi nhà xây đầu tiên khi dựng chùa; sala cũng được là kiểu "nhà hội" của Phật tử, giảng đường của những sư sải. Sala cũng là nơi tiếp khác trong những ngày đại lễ Phật Giáo; có nhiều trường hợp sala được ngăn chia thêm những gian phòng nhỏ cho chư tăng hay nơi ngụ tạm cho khách thập phương (Lịch sử chùa Khmer - Trang 112)
Trong sala, phần trung tâm vẫn có bàn thờ Phật nhưng đơn giản hơn, và trong bố cục nầy thì sala phải hướng về phía đông như bao nhiêu chánh điện khác. Theo tổ chức, sala kiến tạo đơn giả hơn phần chánh điện. Nhìn tổng thể, thì những sala hiện có ở những ngôi chùa Khmer miền Nam Việt Nam hiện nay, tất cả đều được xây dựng theo quy cách hiệnđại; ngày trước sala chỉ là ngôi nhà sàn nhỏ bé.
Thiết trí: Cách thiết trí của sala không giống như chánh điện.Sala gồm có: phòng chính để cử hành lễ dâng cơm, nơi tổ chức sinh hoạt, phòng tiếp khác, nơi tổ chức phòng nhạc ngũ âm tế lễ. Tại chùa Bãi Xâu (Mỹ Xuyên) sala còn có thêm một dãy nhà khách. Nơi đây thường tổ chức chúng thập loại chúng sinh, trai đàn chẩn tế. Theo tập tục của người Khmer, nhất là trong tổ chức của tín đồ Phật Giáo, người chết được hoả táng tại nhà thiêu. Việc xây cất nhà thiêu không theo một quy định nào.
Trên nguyên tắc, nhà thiêu chỉ là gian phòng nhỏ, thông gió, để áo quan, cách xa chùa, trên có ống thông khói khi hỏa táng. Cũng có những kiểu nhà thiêu khác; chẳng hạn như tại chùa Phướn (Trà Vinh) nhà thiêu có hình dáng cấu trúc lớn, với diện tích rộng, nền cao, ống thông lớn. Mái nhà thiêu lại có nhiều tầng, xếp chồng lên nhau. Trên mỗi đầu góc mái đều có trang trí hình rồng. Nhà thiêu Khmer trông giống như kiểu đền thờ linh vật của Chăm - Pa. Kiểu nầy chia hai phần: phần dưới là nhà thiêu; phần trên là ống khói. Trong khu vực chung quanh chùa Khmer, thường có những loại tháp lớn nhỏ đủ kiểu và loại khác nhau. Đây là những tháp để cốt. Những loại tháp nầy thường được cấu trúc ba phần: chân tháp khá rộng, hình vuông, có một lỗ nhỏ để cốt của người quá cố vào; thân tháp có nhiều tầng, nhỏ từ dưới lên trên; đầu tháp là những mũi nhọn, trên đỉnh thường để đầu thần có bốn mặt gọi là "Maha Prum". Phía trên đầu tượng nầy là cột sắt nhỏ, nhọn, có nhiều lông nhỏ. Còn những ngôi tháp lớn thì lưu lại cốt của các vị Sãi cả trong chùa, những người đã từng có công lao xây dựng và trùng tu, kiến thiết chùa. Những ngôi tháp lớn hơn dùng để cốt của những người dân trong Phum, Srok.
Hầu hết những cổng chùa Khmer thường được trang trí, điêu khắc tỉmỉ và được xem là những công trình nghệ thuật nổi tiếng. Tuy nhiên, những kiểu dáng của các chùa không theo một khuôn mẫu nào nhất định. Chẳng hạn như cổng chùa Phướn được xây dựng rất đồ sộ; phần trên là ba ngọn tháp theo kiểu cổng đền Angkor, trang trí bằng những hoa văn rất đẹp; phần dưới cổng có hình con rắn 7 đầu, nằm trên bờ lan can. Những cổng chùa theo mô thức Chăm - Pa thì thường chạm khắc hình những người đua ghe Ngo.
Qua thống kê, những ngôi chùa cổ Khmer đến nay chẳng còn lại bao nhiêu; phần lớn đã được trùng tu hay xây dựng lại toàn thể. Qua nghiên cứu, thật khó khăn trong việc xác định niên đại của từng ngôi chùa. Những ngôi chùa Khmer có niên đại lâu đời nhất trong vùng đồng bằng sông Cửu Long như chùa Ông Mẹt (Trà Vinh) chùa Bãi Xàu, chùa Khléang thì không lưu lại một phả tự. hầu hết đều được nhắc trong truyện kể dân gian. Những ngôi chùa cổ được trùng tu một phần hay toàn bộ, trong những thời kỳ khác nhau, tùy nhu cầu, phương tiện và giai đoạn thịnh suy.
Vật liệu xây dựng cũng tùy theo những yếutố nầy, thay đổi khác nhau, kiểu dáng của khác nhau. Những ngôi chùa kiến tạo hay trùng tu về sau được dùng vật liệu bằng xi măng, sắt, gạch, nên ảnh hưởng không ít đến việc xây dựng và quymô chùa. Thông thường, một ngôi chùa trùng tu lại không tuân thủ theo kiểu dáng cũ, theo quy tắc nào nhất định, có khi ngôi chùa trùng tu lại khác hẳn cơ sở chùa nguyên thủy.
Nhìn chung lại, những chùa chiền Khmer trong vùng đồng bằng sông Cửu Long đều không giống nhau về hình dáng, kích thước, nhưng lại giống về kiểu thức, nguyên tắc kết cấu..


http://www.buddhismtoday.com/viet/pgtg/PhatgiaoKHMER.htm